Carcinom: bệnh lý tuyến tiền liệt

Tuyến tiền liệt là một tuyến đặc thù chỉ có ở nam giới, góp phần hình thành nên tinh dịch. Cùng tìm hiểu các bệnh lý thường gặp của tuyến tiền liệt qua bài viết sau đây.


Carcinom: bệnh lý tuyến tiền liệt

Theo chia sẻ từ Bác sĩ Anh Tú (GV Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cs HCM), Carcinom tuyến tiền liệt là loại ung thư thường gặp. Bệnh nhân thường có tuổi trên 50 tuổi. Theo Nguyễn Chấn Hùng và cs., tại TP. Hồ Chí Minh, năm 1997, trong 10 loại ung thư có xuất độ cao nhất, ung thư tuyến tiền liệt đứng hàng thứ 8 ở giới nam. Theo các khảo sát ở Hoa Kỳ, bệnh có xuất độ thứ nhì trong tất cả các ung thư ở giới nam.

1. Nguyên nhân

Có 4 yếu tố có liên quan đến nguyên nhân sinh bệnh: tuổi, chủng tộc, nội tiết tố và yếu tố môi trường.

  • Bệnh rất hiếm gặp ở Châu Á, thường gặp ở người Hoa Kỳ.
  • Người da đen bị bệnh nhiều hơn người da trắng.
  • Xuất độ bệnh tăng lên ở những người có ít nguy cơ bị bệnh khi họ di cư sang các vùng có nhiều nguy cơ bị bệnh.
  • Những người thợ làm trong các ngành kỹ nghệ có cadmium có xuất độ bệnh cao.

Vai trò của các nội tiết tố vẫn chưa được biết rõ. Nhưng người ta có một số nhận xét như sau: các ổ di căn của ung thư tuyến tiền liệt bị chặn đứng hoặc bị làm chậm phát triển nếu người ta cắt bỏ tinh hoàn và/hoặc cho estrogen.

Như vậy, nội tiết tố nam phải có vai trò nguyên nhân. Nhưng nhiều khảo sát khác lại không chứng minh được mối liên hệ nhân quả giữa lượng nội tiết tố (estrogen, nội tiết tố nam, các steroids thượng thận) trong máu và nước tiểu với sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt.

2. Đại thể

Carcinom có thể xuất nguồn từ bất kỳ vùng nào của tuyến tiền liệt nhưng hiếm ở ngoại biên.

U bắt đầu bằng nhiều ổ, nhưng thông thường, lúc phát hiện bệnh các ổ này đã hợp lại thành một khối giới hạn không rõ. Điển hình, trên diện cắt, mô u cứng chắc, rất khó phân biệt với mô tuyến tiền liệt bình thường. Mô u có màu hơi vàng hơn mô chung quanh hoặc có màu trắng xám. Chỉ khi u xâm nhập vỏ bao của tuyến tiền liệt, hoặc lan rộng đến túi tinh, trực tràng, bàng quang, người ta mới có thể phân biệt u dễ dàng.

Bệnh lý tuyến tiền liệt
Bệnh lý tuyến tiền liệt

U có thể cho di căn theo đường máu đến xương, đặc biệt là xương sống. Di căn xương có thể làm tiêu xương hoặc sinh xương. Di căn tạng hiếm gặp hơn nhiều. Di căn theo đường limphô đến các hạch ở vùng bịt, hạ vị, chậu, trước xương thiêng, cạnh động mạch chủ. Di căn hạch có thể xảy ra trước di căn xương.

3. Vi thể

Hầu hết tổn thương là carcinom tuyến với các cấu trúc tuyến rõ ràng.

Trong dạng biệt hóa rõ, các tuyến có kích thước nhỏ hay vừa với một lớp thượng mô trụ hay lập phương, đôi khi có dạng nhú hay dạng sàng. Tế bào u có nhân tròn hay bầu dục và bọng, có bào tương nhạt màu và thường có hạt. Hiếm có phân bào. Dạng biệt hoá rõ có khi rất khó phân biệt với tăng sản lành tính Thường thường, trong ung thư, các tuyến có kích thước nhỏ hơn và lót bởi một lớp tế bào, mô đệm ít hơn.

Trong dạng biệt hóa kém, tế bào u ít hợp thành dạng ống tuyến mà thường hợp thành dải, bè, ổ, có hạt nhân rõ ưa acid và có nhiều phân bào. Trong dạng này, mô đệm có thể có ít hay rất nhiều làm cho u có mật độ xơ cứng.

Ngoài ra, ung thư tuyến tiền liệt còn có các dạng rất hiếm gặp là carcinom dạng thượng bì, carcinom bọc dạng tuyến, carcinom tế bào chuyển tiếp.

4. Biểu hiện lâm sàng

Trong Y Dược học tổng hợp, người ta ước tính có khoảng 30% đàn ông trên 50 tuổi có ung thư tuyến tiền liệt ở giai đoạn A (nghĩa là có ung thư dạng âm thầm không triệu chứng chỉ được phát hiện tình cờ qua tử thiết hoặc qua các bệnh phẩm mổ vì tăng sản lành tính). Trong số các bệnh nhân có giai đoạn A, 60 đến 90% sẽ không có diễn tiến đến các giai đoạn sau. Người ta vẫn chưa biết nguyên nhân của tình trạng này.

Khoảng 5-10% các bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện ở giai đoạn B. Các bệnh nhân này không có triệu chứng đường tiểu, và bệnh chỉ được phát hiện khi người ta khám qua hậu môn. Điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt tận gốc, với 85 đến 90% sống thêm 5 năm, 50% sống thêm 15%. Di căn hạch cũng thường sớm xảy ra nên nhiều tác giả đề nghị nạo hạch chậu 2 bên cùng với cắt bỏ tuyến tiền liệt.

Trên 75% bệnh nhân được phát hiện bệnh ở giai đoạn C hoặc D, với các triệu chứng đường tiểu, hoặc triệu chứng do di căn xương sống. Ở giai đoạn C, 40 đến 80% bệnh nhân có di căn hạch, tỷ lệ sống sau 10 năm chỉ có 36%. Ở giai đoạn D, không thể chỉ điều trị bằng phẫu thuật mà phải cắt bỏ tinh hoàn và cho estrogen, với tỷ lệ sống thêm 5 năm là dưới 20%.

Nguồn: http://yduocthaibinh.net