Nguyên nhân và phân loại gãy xương hở

Gãy xương hở là loại gãy xương mà ổ gãy thông với môi trường bên ngoài qua vết thương phần mềm. Vậy nguyên nhân gãy xương hở là gì?


Nguyên nhân và phân loại gãy xương hở

Cùng tìm hiểu về nguyên nhân và cách phân loại gãy xương hở trong bài viết sau đây được chia sẻ bởi bác sĩ Anh Tú (GV Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cs HCM).

Gãy xương hở là gì?

Gãy xương hở là loại gãy xương mà ổ gãy thông với môi trường bên ngoài qua vết thương phần mềm.

Lưu ý: Những case gãy xương kín nhưng kèm một vết thương phần mềm ở cùng một đoạn chi, thì phải điềuu trị như một gãy xương hở, nêu không, từ nhiễm trùng phần mềm sẽ lan vào xương.

Nguyên nhân và cơ chế

1. Gãy xương hở do cơ chế chấn thương trực tiếp

Theo tin y dược tổng hợp, gãy xương hở do chấn thương trực tiếp từ ngoài vào chiếm tỷ lệ 80 – 90%, tổn thương nặng ở phần mềm, xương gãy phức tạp. Đây là loại chấn thương mạnh, tốc độ nhanh.

  1. Thời bình
  • Tai nạn giao thông là nguyên nhân đứng đầu, chiếm khoảng 50% tổng số nguyên nhân gây gãy xương hở. Đặc biệt có những tai nạn thảm khốc, nhiều bệnh nhân bị cùng một lúc và gãy hở nặng nhiều xương.
  • Tai nạn lao động: đối với công nhân khi bị tai nạn phần lớn do các dây chuyền lao động gây nên. Với nông dân chủ yếu do các máy nông nghiệp: máy gặt, máy xay…đào đất, làm gạch.
  • Tai nạn và chấn thương thể dục thể thao v.v…

1. Thời chiến

  • Tai nạn do hoả khí. Việt Nam tuy đã sống trong hoà bình, bom đạn cũ của chiến tranh còn rất nhiều và gây ra nhiều thương vong.
  • Gãy xương hở do hoả khí là một loại gãy xương hở rất nặng vì ngoài cơ chế chấn thương trực tiếp ra còn có sóng năng lượng (động năng) của viên đạn có sức phá hủy lớn.

2. Gãy xương hở do cơ chế thương gián tiếp

Gãy xương hở do chấn thương từ trong ra. Xương thường gãy chéo xoấn. phần mềm tổn thương nhẹ.

Ví dụ:

  • Gãy hở trên lồi cầu xương cánh tay ở trẻ em do bệnh nhân ngã chống tay, lực tác động truyền dọc trục cẳng tay lên vùng trên lồi cầu xương cánh tay là nơi yếu nhất (do các diêm cốt hoá). Do đó gây nên gãy xương và chọc đầu xương ra ngoài.
  • Gãy kín hai xương cẳng chân nhưng do bất động không tốt, di lệch đẩu xương nhọn làm cho mào chày đâm ra ngoài.

Phân loại gãy xương hở

1. Dựa vào cơ chế chấn thương

Chia gãy xương hở ra hai loại:

  • Gãy hở ngoài vào do chấn thương trực tiếp.
  • Gãy hở trong ra do chấn thương gián tiếp.

2. Dựa vào thời gian (Theo Friedrich)

  • Gãy xương hở đến sớm: là thời gian từ lúc bị tai nạn đến khi được đưa vào viện trước 6-8 giờ.
  • Gãy xương hở đến muộn: là thời gian từ lúc bị tai nạn đến khi được đưa vào viện sau 8 giờ.
  • Gãy xương hở nhiễm trùng, tại chỗ đầy mủ thối.

3. Dựa vào tổn thương phần mềm

Trên thế giới có nhiều cách phân loại gãy xương hở dựa vào tổn thương phần mềm như: Oestrern (Đức, chia gãy xương hở thành 4 độ), Couchoix (Pháp, chia gãy xương hở thành 3 độ), A.o (Hiệp hội Chấn thương chỉnh hình Quốc tế, chia gãy xương hở thành 5 độ). Nhưng hiện nay, phân loại theo Gustilo (Mỹ) là đơn giản nhất, chính xác và được ứng dụng nhiều nhất.

Gãy xương hở là gì?

Phân độ gãy xương hở theo Gustilo, gồm ba độ như sau:

  • Độ 1: Gãy xương hở mà vết thương phần mềm nhỏ gọn, sạch. Đây là loại gãy hơ nhẹ, thường do cơ chế chấn thương gián tiếp. Về mặt điều trị: các chỉ định như gãy xương kín.
  • Độ 2: Vết thương phần mềm 1 – 10cm, xung quanh vết thương gọn sạch.
  • Độ 3: Cơ chế chấn thương mạnh với năng lượng cao. Tổn thương phần mềm nặng, xương gãy phức tạp, tỷ lệ cắt cụt chi rất cao 15%. Độ 3 lại chia ra:
    • Độ 3a: Dập nát phần mềm rộng, nhưng xương còn được che phủ một cách thích hợp.
    • Độ 3b: Mất phần mềm rộng, lộ xươrig ra ngoài. Sau khi cắt lọc vết thương, phải chuyên vạt da — cân, hoặc vạt cơ để che xương, nếu không xương sẽ chết.
    • Độ 3c: Ngoài các tổn thương như độ 3b, còn kèm theo tổn thương mạch và thần kinh, nhẹ thì đụng giập, nặng thì mất đoạn. Tỷ lệ cứu được chi loại này rất thấp.

Nguồn: yduocthaibinh.net