Tìm hiểu về đặc điểm hệ tiết niệu ở trẻ em

Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ, mà là cơ thể đang phát triển với những đặc điểm giải phẫu, sinh lý, bệnh lý, đặc biệt là hệ tiết niệu của trẻ có nhiều điểm khác biệt.

Thận của trẻ em thấp hơn thận của người lớn

Thận của trẻ em thấp hơn thận của người lớn

Hệ tiết niệu của trẻ em bao gồm đầy đủ các cơ quan với chức năng tương tự như hệ tiết niệu của người lớn, gồm: Thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo… đi sâu vào nghiên cứu sẽ thấy những điểm khác biệt trong các cấu trúc này ở trẻ em.

Thận ở trẻ em

Vị trí: Theo giải phẫu thận trẻ nhỏ nằm thấp hơn so với trẻ lớn, người lớn. Cực dưới của thận nằm ngang đốt sống thắt lưng 4-5. Chiều dài thận tương đương độ dài của 4 đốt sống thắt lưng, diện thận ở khoảng L1 – L4, trong khi ở người lớn nằm trong khoảng từ T12 đến L3. Các giảng viên lớp Liên thông Cao đẳng Điều dưỡng TP.HCM phân tích rằng do nằm thấp hơn nên việc thăm khám thận ở trẻ nhỏ sẽ sờ thấy thận dễ dàng hơn, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi

Khối lượng thận của trẻ sơ sinh là 11-12g, thận lớn nhanh trong năm đầu với kích thước gấp 3 vào lúc 1 tuổi sau đó tăng chậm tăng dần theo tuổi tới trưởng thành gấp 10 lần là khoảng 120-150g. Thận của trẻ em tương đối to hơn so với người lớn và tăng dần theo tuổi ( so sánh khối lượng thận với cân nặng toàn thân), ở trẻ sơ sinh 12g/3kg chiếm 0,4% khối lượng cơ thể, ở người trưởng thành 150g/50kg chiếm 0,3%.

Hình dáng của thận trẻ nhỏ có hình múi, do trẻ dưới 2 tuổi thận còn giữ cấu tạo tiểu thùy từ thời kỳ bào thai. Tỷ lệ giữa phần vỏ và phần tủy ở trẻ sơ sinh là 1:4, người lớn là 1:2. Như vậy ở sơ sinh vỏ thận còn ít biệt hóa hơn, sự biệt hóa này sẽ tăng dần theo tuổi.

Cấu trúc nephron giống với người lớn, nephron là đơn vị cấu tạo và đơn vị chức năng của thận với các cấu trúc: Cầu thận, ống lượn gần, quai Henle, ống lượn xa, ống góp. Trong đó, phần ống thận tương đối kém phát triển hơn cầu thận. Diện tích lọc của cầu thận tỉ lệ thuận với tương ứng với diện tích da. Số lượng nephron đạt khoảng 1 triệu đơn vị từ tuần thứ 25 của thai kỳ, sau đó chỉ tăng về kích thước.

Tuần hoàn thận có một số đặc điểm sau: Đường kính tiểu động mạch đến lớn gấp hai lần tiểu động mạch đi, hệ thống mao mạch kép ở phần vỏ, hệ thống mạch thẳng (vasa recta) gồm các mạch máu dọc theo ống Henle nằm gần tủy thận. Sự phân bô máu ở thận không đều, ở trẻ sơ sinh phần tủy cấp máu nhiều hơn phần vỏ. Ở trẻ lớn ngược lại, phần vỏ được cung cấp máu nhiều hơn phần tủy.

Đặc điểm đài thận – bể thận – niệu  quản trẻ em

Mỗi thận có 9-12 đài thận, được chia thành 3 nhóm: Trên, giữa, dưới. Hình dáng của hệ thống đài bể thận theo các lứa tuổi rất khác nhau do có nhu động co bóp để đẩy nước tiểu xuống phía dưới

Niệu quản ở trẻ sơ sinh đi ra từ bể thận một cách vuông góc, còn ở trẻ lớn thì thường góc tù. Chiều dài niệu quản sơ sinh bằng ¼ chiều dài niệu quản người lớn, do dài và ngoằn ngoèo nhiều hơn nên dễ bị gấp hoặc xoắn. Vì những đặc điểm trên nên trẻ dễ bị ứ đọng nước tiểu ở đài bể thận.

Đặc điểm niệu đạo bàng quang của trẻ

Đặc điểm niệu đạo bàng quang của trẻ

Đặc điểm bàng quang, niệu đạo

Kênh thông tin Y tế và làm đẹp cho biết rằng bàng quang ở trẻ em nằm cao, nên khi chứa đầy nước tiểu thì sẽ dễ sờ thấy cầu bàng quang. Dung tích bàng  quang tăng dần theo tuổi:

  • Sơ sinh: 30 – 60ml.
  • 5 tuổi: 100 – 200ml.
  • 15 tuổi: 200 – 400ml.

Kích thước niệu đạo của trẻ em phụ thuộc vào giới và phụ thuộc vào tuổi:

  • Trẻ gái: Niệu đạo rộng và ngắn 2-4cm.
  • Trẻ trai: Niệu đạo hẹp và dài 6-15cm.

Do vậy  trẻ gái dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu hơn trẻ trai.

Nguồn: yduocthaibinh.net