Tìm hiểu về độc tính của Methanol

Methanol còn được gọi là cồn gỗ, là một dung môi hữu cơ thường được sử dụng trong công nghiệp vì độc tính của nó, có thể gây nhiễm toan chuyển hóa, di chứng thần kinh và thậm chí tử vong khi uống.

Căn nguyên và sinh lý bệnh của ngộ độc methanol

Căn nguyên và sinh lý bệnh của ngộ độc methanol

Căn nguyên và sinh lý bệnh của ngộ độc methanol

Bản chất Methanol là chất có độc tính tương đối thấp. Tuy tác hại của methanol lại đến từ acid formic- một sản phẩm của quá trình chuyển hóa methanol.

Sau khi uống, methanol được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa và chuyển hóa ở gan. Khi vào trong cơ thể methanol đạt nồng độ đỉnh trong máu sau 30 – 90 phút tùy thuộc vào sự hiện diện của thức ăn hay không. Trong bước đầu tiên của quá trình phân hủy, methanol được chuyển thành formaldehyd thông qua enzyme rượu dehydrogenase (ADH). Chất này tiếp tục bị oxy hóa thành axit formic thông qua enzyme aldehyd dehydrogenase. Axit formic tiếp tục bị oxy hóa thành carbon dioxide và nước với sự hiện diện của tetrahydrofolate. Sự chuyển hóa của axit formic rất chậm; do đó, axit formic thường tích tụ trong cơ thể, dẫn đến nhiễm toan chuyển hóa. Chỉ tính riêng formaldehyde độc gấp 33 lần so với methanol và acid formic độc gấp 6 lần methanol. Sau khi acid formic được tạo ra thì bước tiếp theo của quá trình chuyển hóa là acid formic chuyển thành CO2 và nước.

Tổn thương mắt do methanol đã được mô tả rõ ràng; tuy nhiên, cơ chế đằng sau hiện tượng này không được hiểu rõ. Mất thị lực được cho là do sự gián đoạn chức năng của ty thể trong dây thần kinh thị giác, dẫn đến tăng huyết áp, phù và teo dây thần kinh thị giác. Acid formic ức chế cytochrome oxidase trong thần kinh thị làm xáo trộn dẫn truyền sợi trục.

Triệu chứng lâm sàng của ngộc độc Methanol

Triệu chứng lâm sàng của ngộc độc Methanol

Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng nhiễm độc methanol thường xuất hiện trong vòng 30 phút sau uống nhưng có thể muộn hơn, tuỳ thuộc vào số lượng mà bệnh nhân uống, bệnh nhân có uống cùng ethanol hay không (xuất hiện triệu chứng chậm hơn) và tình trạng folate của bệnh nhân. Thường có hai giai đoạn, giai đoạn kín đáo (vài giờ đến 30 giờ đầu) và giai đoạn biểu hiện ngộ độc rõ tiếp theo sau. Vì triệu chứng lúc đầu thường kín đáo và nhẹ (ức chế nhẹ thần kinh, an thần, vô cảm) nên thường bị bệnh nhân chủ quan và bỏ qua hoặc trẻ nhỏ không được phát hiện.

Biểu hiện thần kinh

Lúc đến viện người bệnh có thể trong trạng thái tỉnh táo và kêu đau đầu, chóng mặt, sau đó quên, bồn chồn, hưng cảm, ngủ lịm, lẫn lộn, hôn mê, co giật.

Ban đầu, các triệu chứng nhiễm độc methanol tương tự như nhiễm độc ethanol, thường bị mất cân bằng và mất điều hòa. Sau một thời gian tiềm ẩn, bệnh nhân có thể bị đau đầu, buồn nôn, nôn hoặc đau vùng thượng vị. Trong các giai đoạn sau, xuất hiện buồn ngủ và có thể nhanh chóng tiến triển đến tình trạng khó thở và hôn mê.

Với ngộ độc methanol thì tổn thương ưu thế gây độc hệ thần kinh trung ương. Dấu hiệu sớm khi ngộ độc Methanol là rối loạn trường nhìn, buồn nôn và nôn hay đau bụng.  Biểu hiện sau đó là toan chuyển hóa và cuối cùng là hôn mê, ngừng thở thường sau 6- 36 giờ.

Biểu hiện thần kinh khi bị ngộ độc Methanol

Biểu hiện thần kinh khi bị ngộ độc Methanol

Biểu hiện thần kinh trung ương là đặc tính để chẩn đoán xác định. Tổn thương hoại tử hạch đáy cả hai bên là dấu hiệu đặc trưng trên điện quang để chẩn đoán ngộ độc methanol. Nó được giải thích do giảm dòng chảy qua tĩnh mạch đáy và tính ái tập trung của Methanol vào vùng hạch đáy hơn các vùng khác của não.

Những tổn thương khác cũng được ghi nhận như phù não, hoại tử vùng dưới vỏ não đại não cũng như tiểu não. Một số trường hợp có thể gây chảy máu khoang dưới nhện hay nhu mô não hai bên. Thông tin này cũng được đăng tải trên trang tin tức y tế và nhận được sự quan tâm của nhiều độc giả.

Mất thị lực

Mù do hít phải methanol được mô tả vào đầu năm 1910. Axit formic tích tụ trong dây thần kinh thị giác, dẫn đến các triệu chứng tổn thương thị giác.

Lúc đầu chưa biểu hiện, sau đó nhìn mờ, sợ ánh sáng, ám điểm, đau mắt, song thị, ám điểm trung tâm, giảm hoặc mất thị lực, ảo thị (ánh sáng chói, các chấm nhảy múa, nhìn thấy đường hầm,…). Đồng tử phản ứng kém với ánh sáng, soi đáy mắt thấy gai thị xung huyết, sau đó phù võng mạc lan rộng dọc theo các mạch máu đến trung tâm đáy mắt, các mạch máu cương tụ, phù gai thị, xuất huyết võng mạc. Đồng tử giãn cố định là dấu hiệu của ngộ độc nặng và tiên lượng xấu.

Các dấu hiệu sinh tồn

Xuất hiện nhịp tim nhanh, thở nhanh và sâu (kiểu thở kussmaul), huyết áp thường bình thường cho đến khi tử vong. Trước khi có các biện pháp điều trị đặc hiệu như hiện nay, bệnh nhân thường tử vong do ngừng thở.

Nguồn: yduocthaibinh.net