Tìm hiểu về hồng hoa và tác dụng của nó

Hồng hoa là một dược liệu chủ yếu được dùng để chữa các bệnh phụ nữ và ngoài ra có tác dụng điều trị các bệnh liên quan đến huyết khối.

Cây hồng hoa

Cây hồng hoa

Thông tin về Hồng hoa

Hồng hoa có tên khoa học là Flos Carthami. Bộ phận dùng là hoa của cây Hồng hoa – Carthamus tinctorius L., họ Cúc – Asteraceae.

Tên Việt Nam: hồng lam hoa, dỗ hồng hoa, mạt trích hoa, hồng hoa thái, tạng hồng hoa, kết hồng hoa, sinh hoa, tán hồng hoa, trích hoa, thạch sinh hoa, đơn hoa, tiền bình hồng hoa…

Cây hồng hoa là cây thuộc thảo, cao 0.6-1m, mọc 2 năm. Thân có vạch dọc. Lá mọc so le, không có cuống, mép lá có răng cưa thành gai. Cụm hoa hình đầu họp thành ngù. Hoa màu đỏ, hoặc da cam. Quả đóng có 5 cạnh lồi nhỏ.

Kênh thông tin Y tế và làm đẹp cho biết trước đây cây được trồng nhiều ở Hà Giang, sau này được phát triển trồng ở nhiều nơi, trồng bằng hạt vào mùa xuân, đến mùa hạ khi hoa đang nở, cánh hoa chuyển từ vàng sang đỏ thì hái về để nơi thoáng gió trong râm hoặc nơi có ánh nắng cho khô. Không nên phơi trực tiếp giữa nắng to để khỏi mất màu.

Dược liệu: là cánh hoa dạng ống nhỏ dài, khô teo lại như tơ, xẻ 5 thùy, phiến thùy hình dải hẹp, dài khoảng 6,5mm, toàn thể dài hơn 13mm, có màu hồng hoặc hồng tím, hoa đực thì màu vàng nhạt.

Thành phần hóa học và công dụng của hồng hoa

Hai sắc tố chính của hồng hoa là Carthamin và carthamon.

Lá hồng hoa chứa flavonoid khác: 7-glucosid của luteolin.

Quả chứa protein (15%) và lipid (30%). Dầu chứa hơn 90% acylglycerol của các acid chưa no: oleic (13-15%), linoleic (75-70%) và một lượng nhỏ các acyl glycerol của các acid no: palmatic và stearic. Ngoài ra trong quả còn chứa trachelosid và 1 glycosid steroid.

Theo như thông tin được các Dược sĩ tại Cao đẳng Y dược TPHCM cho biết hồng hoa có tác dụng tăng có bóp tử cung, liều nhỏ làm tăng có bóp đều, liều lớn làm cho tử cung tăng nhịp rung cơ tử cung, tăng co bóp cơ trơn ruột, có tác dụng làm hạ áp, tăng lưu lượng máu dinh dưỡng cơ tim, lưu lượng máu động mạch vành, ức chế kết tập tiểu cầu, có tác dụng hỗ trợ điều trị nhồi máu cơ tim.

Trong y học cổ truyền hồng hoa có vị cay, tính cấm quy vào 2 kinh là tâm và can có tác dụng hoạt huyết khu ứ, thông kinh hay được dùng làm thuốc điều kinh, chữa bế kinh, kinh nguyệt xấu, sau sinh đau bụng, đau do ứ huyết, đau khớp, ban chẩn. Chú ý phụ nữ có thai không được dùng.

Hồng hoa giúp cho tuần hoàn máu được lưu thông tốt, được dùng để trị chứng huyết khối. Ngoài ra còn dùng điều trị chứng co thắt mạch vành, đau thắt ngực.

Một số bài thuốc có chứa hồng hoa

  • Rối loạn kinh nguyệt, kinh bế, sau sinh máu xấu không ra hết, dùng một trong các bài sau: Hồng hoa 10g, sức với rượu chia 3 lần uống trị đau kinh gọi là bài hồng hoa tửu hoặc dùng hồng hoa 5g, xuyên khung, đương qui, hương phụ, diên hồ sách đều 10g, sắc nước uống hoặc phối hợp với rượu đương qui uống, trị đau bụng kinh.
  • Đau sưng tấy do chấn thương ngoại khoa: hồng hoa, đào nhân, sài hồ, đương qui đều 10g, đại hoàng 8g, rượu và nước mỗi thứ một nửa sắc uống hoặc hồng hoa, đào nhân, đương qui vĩ đều 120g, chi tử 240g, tán bột mịn trộn đều với giấm lượng vừa đủ đun nóng đắp chỗ đau.

Tác dụng của cây hồng hoa

Tác dụng của cây hồng hoa

  • Huyết khối ở não: dùng hồng hoa 50% – 15 ml(có tương đương 75g thuốc sống), gia vào 500ml glucozơ 10% truyền tĩnh mạch ngày một lần, 15 ngày là một liệu trình. trị cho 137 ca, tỷ lệ có kết quả 94,7% ( tạp chí y dược sơn tây 1983, 5:297).
  • Bệnh mạch vành: dùng 50% dịch chích Hồng hoa cho vào dung dịch glucozơ chích tĩnh mạch, nhỏ giọt tĩnh mạch hoặc chích bắp, trị 100 ca. Cơn đau thắt ngực có kết quả là 80,8%, kết quả điện tâm đồ 26%, chuyển biến tốt 40%. Đối với chứng cao huyết áp, xơ cứng động mạch não gây đau đầu, váng đầu, hồi hộp, cũng có kết quả nhất định( Tạp chí Tim mạch 1976,4(4):265).

Trị loét hành tá tràng: hồng hoa 60g, đại táo 12 quả cho nước 300ml, sắc còn 150ml lọc cho mật ong 60g trộn đều, mỗi ngày uống nóng 1 lần, ăn táo uống liền 20 thang.

Nguồn: yduocthaibinh.net